Công dụng chữa bệnh của cây đại

Cây đại còn gọi là cây sứ, tùy theo loài, hoa đại có màu từ trắng, vàng tới hồng, đỏ và nở vào dịp xuân – hè, rất thơm. Tuy nhiên, nếu dùng làm thuốc, phải dùng loại hoa cánh trắng, tâm điểm vàng mới có tác dụng.

Mô tả:

Cây đại không những được trồng làm cảnh mà còn là một cây thuốc quý. Dạng cây nhỡ, cành mẫm, to. Lá mọc so le sít nhau, thường tập trung ở đầu cành, lá dày, nguyên, hai đầu đều hẹp nhọn, mặt nhẵn bóng, gân giữa nổi rõ. Hoa màu trắng, rất thơm, mặt trong ở phía dưới màu vàng. Quả đại dài hình trụ. Mùa hoa ở miền Bắc 4-8.

Phân bố:

Cây rất hay được trồng làm cảnh quanh chùa đền và các công viên vì dáng đẹp, hoa thơm , một số bộ phận dùng làm thuốc. Vỏ thân đẽo về sao vàng mà dùng, có khi phơi khô để dành. Vỏ rễ cũng dùng như vỏ thân. Hoa đại hái về, phơi khô, ngoài ra còn dùng nụ và lá tươi.

Bộ phận dùng: Vỏ thân, hoa (Cortex et Flos Plumeriae), lá tươi, nhựa tươi.
Thu hái: Ðược nhập trồng vì hoa đẹp, mọc lâu năm. Người ta thu hái hoa khi mới nở, dùng tươi hay phơi hoặc sấy nhẹ đến khô. Dùng khô tốt hơn dùng tươi.

Thành phần hoá học:

Các chất thuộc nhóm Iridoid, alcaloid, trong hoa có tinh dầu.

Trong vỏ thân, Peckolt và Geuther đã tìm thấy một glucozit gọi là agoniađin C10H14O6 có tinh thể hình kim mềm, chảy ở 155°C, ít tan trong nước, trong rượu, trong sunfua cacbon, ête và benáa, tan trong axit nitric và sunfuric. Dung dịch màu vàng tươi, nhưng dần dần ngả màu xanh lục. Dưới tác dụng của axit loãng và đun sôi, agoniađin sẽ cho glucoza và một phần chưa xác định được.

Oudman còn chiết được từ nhựa cây một axit gọi là axit plumeric C10H10O5, có tinh thể hình kim nhỏ, tan trong nước sôi, rượu và ête, chảy và bị phân tích ở 130°C. Năm 1952, Grumbach A., Schmiđ H. và Bencze w. (1952, Uberein Pfianzliches Antibioticum. Experimentia, Suisse, 8, (6): 224-225) đã chiết được từ cây hoa đại một chất kháng sinh mới đặt tên là funvoplumierin có tác dụng ức chế sự lớn lên của một số giống Mycobacterium tuberculosis.

H. Mahran (1974, Planta Medica, 5: 226) đã lấy từ rễ, lá và vỏ đại một chất đắng gọi là plumierit, một glucozit. Không có trong hoa. Plumierit là một chất bột trắng, có tinh thể, không mùi, vị đắng, độ chảy 155-156°C tan trong nước, trong cồn etylic, metylic, etylaxetat. ít tan trong ête, clorofoc, không tan trong ête dầu hoả. Trong hoa có một ít tinh dầu mùi thơm mát.
Bài thuốc từ cây đại

Công dụng chữa bệnh của cây đại

Nhuận tràng: Lấy 4-5 g vỏ thái mỏng, sao thơm, sắc với 200 ml nước, chia làm 3 lần uống trong ngày.

Chữa táo bón: Dùng 5-10 g vỏ đại thái mỏng, sao thơm, sắc với 200 ml nước, chia làm 3 lần uống trong ngày.

Hoặc: Vỏ đại 50 g, cám gạo 50 g, sao vàng, tán nhỏ rồi rây thành bột mịn, trộn với hồ làm viên 0,5 g. Người lớn dùng 15 viên mỗi ngày, trẻ em 5-9 tuổi uống 5 viên, 10-15 tuổi uống 10 viên. Chia thuốc uống làm 2 lần với nước đun sôi để nguội (không dùng nước chè).

Đau nhức hay mụn nhọt: Lấy lá sứ tươi giã nhuyễn đắp vào.

Chữa cao huyết áp: Lấy từ 12 – 20g hoa đại (loại khô), đem sắc (nấu) lấy nước, uống thay trà trong ngày. Uống hằng ngày.

Chữa chân răng sưng đau: Lấy 12-20 g vỏ rễ ngâm trong 200 ml rượu 25-35 độ trong khoảng 30 phút. Mỗi ngày ngậm 2 lần, không được nuốt. Chú ys không được dùng quá liều. Chữa viêm tấy, lở loét chai chân: Dùng nhựa cây đại bôi tại chỗ.

Chữa sai khớp, bong gân, mụn nhọt: Lấy lá đại giã nát đắp tại chỗ.

An thần, giảm huyết áp: Hoa đại khô thái nhỏ 100 g, hoa cúc vàng khô thái nhỏ 50 g, hoa hòe (sao vàng) 50 g, hạt quyết minh (sao đen) 50 g. Tất cả tán thành bột, chia thành gói 10 g. Mỗi ngày dùng 1-2 gói, hãm uống thay nước chè trong ngày. Thuốc có tác dụng bảo vệ mao mạch, làm giảm nhẹ huyết áp, an thần, gây ngủ nhẹ.

Bong gân: Dùng một lá tươi rửa sạch, giã nhuyễn, trộn với một ít muối ăn đắp lên chỗ sưng. Lại dùng một ít lá tươi khác, hơ lên lửa cho héo và đắp phía ngoài rồi cố định bằng băng hoặc vải sạch. Ngày đắp 1 – 3 lần, liên tục như vậy 1 – 2 ngày.

Chú ý: Tuy cây đại có rất nhiều tác dụng chữa nhiều loại bệnh khác nhau nhưng nó cũng có những hại nhất định ví dụ như gây ra tiêu chảy hoặc đau bụng. CHính bởi vậy cho nên trước khi sử dụng cũng như trong khi sử dụng bạn cần nghe ngóng xem cơ thể mình có biểu hiện dấu hiệu nào bất thường không để kịp thời ngừng dùng cây. Đặc biệt với những người đang bị tiêu chảy hoặc phụ nữ có thai thì tuyệt đối không được sử dụng loại cây này.
>>>> Tác dụng cũng như tác hại của cây rau má bạn nên biết trước khi sử dụng